Vietnam World Class Manufacturing

Để các nhà sản xuất Việt Nam đạt đẳng cấp thế giới

Có phải sản phẩm có chất lượng tốt thì bán chạy?

Posted by vietnamwcm trên 19 Tháng Tám 2017

Có bao giờ bạn tự hỏi tại sao với sản phẩm có “chất lượng tốt”, giá cạnh tranh nhưng doanh số ngày càng giảm? Tại sao sau khi nâng cấp sản phẩm với nhiều tính năng mới, “tốt hơn”, thì doanh số không đi lên như dự tính mà lại tiếp tục đi xuống? Bỏ qua các yếu tố về giá cả, hệ thống phân phối và chương trình quảng cáo, khuyến mãi của công ty cũng như ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như xu hướng thị trường, các hoạt động của đối thủ cạnh tranh, … thì một trong nguyên khả dĩ nhất cho việc giảm doanh số này chính là ở cái được cho là “chất lượng tốt”. Điều này có gây bất giờ cho các bạn không?

Với hệ thống quản lý chất lượng thông thường trong một nhà máy, đơn vị sản xuất thì việc sản phẩm được sản xuất ra phù hợp với tiêu chuẩn thành phẩm thì được xem là có chất lượng đạt yêu cầu để có thể bán ra thị trường. Tuy nhiên, một vấn đề các doanh nghiệp thường gặp phải khi cố gắng duy trình hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm chính là việc nắm bắt và truyền đạt thông tin giữa các bộ phận nghiên cứu thị trường (marketing), phát triển sản phẩm (product development) và sản xuất (production) về các yêu cầu của khách hàng (customers’ requirements/needs). Và một thực tế là sự truyền đạt này thường là kém, không hiệu quả.

MKT vs RnD

Trước hết sự thông tin không hiệu quả có thể bắt đầu từ việc bộ phận phát triển sản phẩm không nắm bắt được nhu cầu của khách hàng một cách chính xác hoặc đánh giá không đúng mức độ ưu tiên của các yêu cầu này từ những thông tin của bộ phận marketing. Hậu quả thường thấy là, trong tiêu chuẩn thành phẩm được soạn thảo bới bộ phận này, với bộ ba cấp độ “lỗi nghiêm trọng, lỗi chính, lỗi phụ” (serious, major, minor) hoặc “lỗi an toàn, lỗi chức năng và lỗi ngoại hình” (safety, performance, appearance), được diễn dịch kém hiệu quả vì “ngôn ngữ marketing” cho việc thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng lại là “cơ bản, chức năng và thích thú” (tạm dịch cho basic, performance, và excitement theo mô hình tiếng nói khách hàng – voice of customer – của Kano).

Tiếp theo đó, việc chuyển thể những yêu cầu này sang dạng có thể kiểm soát được bởi bộ phận chất lượng tại nhà máy thường gặp rất nhiều khó khăn vì có rất nhiều yếu tố định tính trong ngôn ngữ của marketing trong khi để kiểm soát tốt tại nhà máy thì các yếu tố cần được diễn giải theo dạng định lượng. Các khó khăn trong việc diễn dịch này thường được thấy trong sự rối rắm hoặc trùng lắp trong việc định nghĩa các lỗi thuộc tính (attribute) và biến số (variable). Kết quả sau cùng của các quá trình này là bộ phận chất lượng, khối sản xuất hiểu khác với cách hiểu của bộ phận phát triển sản phẩm và càng khác với sự hiểu biết của bộ phận marketing về các yêu cầu của khách hàng.

Vậy có giải pháp nào có thể giải quyết vấn đề cho các trường hợp này không?

Advertisements

Posted in Chất Lượng, Quality | Leave a Comment »

TỪ ĐUA XE CÔNG THỨC 1 ĐẾN … SMED

Posted by vietnamwcm trên 15 Tháng Tám 2017

Nói đến đua xe Công thức 1 (Formula One), còn gọi là Thể thức 1 hay F1, rất nhiều người trong chúng ta (đặc biệt đa số fan hâm mộ của loại đua này là nam giới!) đều liên tưởng ngay đến các cuộc đua ngạt thở với tốc độ cực cao, đến hơn 300 km/h, liên tục trong gần 2 giờ. Tuy nhiên, với tôi, điểm ấn tượng nhất không phải là tốc độ, cũng không phải là những khúc cua độc đáo của đường đua, … mà là màn trình diễn nhịp nhàng gần như hoàn hảo của đội hỗ trợ tại các PitStop!

Turkish Formula One Grand Prix: Race

Đa số chúng ta đã từng hoặc đang dùng xe mô tô, gắn máy để đi lại hàng ngày và chắn chắn không ít lần, chúng ta đã phải mang xe ra tiệm để thay lốp và xăm. Thế bạn có nhớ người thợ thường mất bao lâu để thay lốp và xăm cho bánh xe sau không? Thường thì không dưới 15 phút. Nếu bạn đang sử dụng ô tô, hãy nhớ lại lần gần đây nhất mình mất bao nhiêu lâu để thay một lốp bị thủng bằng lốp dự phòng? Thường thì cũng không dưới 10 phút. Thời gian ít hơn này một phần là nhờ hầu hết ô tô đều được chuẩn bị sẵn cả bộ mâm, lốp dự phòng để thay.

Trở lại với F1, trong gần 2 giờ đua, nhiều lần các tay đua phải dừng xe tại các PitStop để thay lốp và bơm thêm xăng. Nếu mỗi lốp chỉ mất 5 phút thôi, tuần tự 4 lốp, rồi 5 phút bơm xăng nữa thì một chiếc xe phải dừng 25 phút. Thời gian chết đến gần 1/5 cho mỗi cuộc đua ~120 phút là quá nhiều, mọi người đều nhận ra, nên tất cả các đội đều đã áp dụng tiến hành song song việc thay 4 lốp và bơm xăng. Thế là tổng thời gian giảm từ 25 phút còn 5 phút. Thật ấn tượng nhưng cũng quá đơn giản!

Tuy nhiên, các đội cũng không hài lòng với kết quả đó mà luôn tìm kiếm sự cải tiến. Xác định việc phải tháo 4-5 con bù long để tháo cả bánh xe ra, rồi lại siết 4-5 con bù long lại chiếm quá nhiều thời gian. Một cải tiến quan trọng đã được thực hiện: cải tiến lại việc lắp ghép bánh xe vào trục bằng khớp nối nhanh mà chỉ cần siết 1 bù long! Thế là thời gian thay một bánh xe từ 5 phút trước đây chỉ còn 2 phút!

Thực tế, nhiều cải tiến khác cũng đã được thực hiện và hiện nay, đã có những đội thay cả 4 bánh xe chỉ trong … 2.3 giây! Trong một cuộc đua xe với tốc độ có thể lên đến 360km/h, 1 phút 6km, 1 giây 100m thì mỗi giây tiết kiệm được đã góp phần làm cho xe của đội mình đi trước được 100m. Một khoảng cách như dài vô tận nếu so sánh với việc chỉ hơn thua vài cm ở đích đến là đã thay đổi hoàn toàn kết quả cuộc đua.

IMG_5624

Trong các doanh nghiệp sản xuất,đặc biệt là hàng tiêu dùng nhanh FMCG cũng vậy, việc rút ngắn thời gian thay khuôn (đúc nhựa, cắt dập, nhảy size của may mặc chẳng hạn) hoặc đổi kích cỡ sản phẩm (từ chai 500ml sang 1500ml trong ngành giải khát, từ cỡ chai 200ml sang 800ml, túi 500g sang 2000g trong hóa phẩm …) giúp thời gian “máy chết” ngắn hơn, giảm thời gian nhân công ngồi không chờ việc hơn, chi phí khấu hao máy móc ít hơn, nhiều sản phẩm được sản xuất ra hơn, đáp ứng nhanh, nhiều và chính xác (On Time, In Full) hơn các đơn hàng của Sales, … sẽ  mang lại cho doanh nghiệp một lợi thế vượt trội trong cuộc đua cạnh tranh trên thị trường.

Phương pháp SMED (Single Minute Exchange of Die), tạm dịch “Thay khuôn trong vài phút” hay “Chuyển đổi nhanh” đã được xây dựng cho công nghiệp sản xuất cùng với cách các đội hỗ trợ đã áp dụng trong các cuộc đua xe F1, với 4 nguyên tắc chính như sau:

  1. Loại bỏ: những thay đổi không thực sự cần thiết. Ví dụ có thật cần thiết phải siết cả 5 bù long không? Thay bằng thiết kế khớp nối nhanh với 1 bù long sẽ giảm thời gian siết và mở bù long
  2. Chuyển sang “bên ngoài”: Cần ghi nhớ rằng, điểm chính của Chuyển đổi nhanh không chỉ là làm tất cả mọi việc trong thời gian ngắn hơn khi xe đã dừng mà chuyển công việc “bên trong” ra “bên ngoài” khoảng thời gian xe dừng, là thực hiện công việc trước hoặc sau khi dừng xe. Ví dụ thợ máy thường mất nhiều thời gian tìm kiếm và chuẩn bị dụng cụ, phụ tùng thay thế trong khi xe đã dừng. Nếu dụng cụ và phụ tùng được chuẩn bị từ trước, cả cụm lốp và mâm xe, và được tổ chức chuyển ra tận PitStop trước một cách hợp lý, một lượng lớn thời gian dừng xe đã được tiết kiệm.
  3. Đơn giản hoá: Bất cứ công đoạn nào không thể loại bỏ hoặc chuyển ra “bên ngoài” thì cần suy nghĩ cách cải tiến để làm đơn giản hơn, nhanh hơn. Máy vặn ốc/vít tốc độ cao, con đội nâng xe tự động, bơm xăng tốc độ cao, nắp bình xăng khiểu plug-in
  4. Không đổi: trong trường hợp không thể cải tiến, đơn giản hóa, các công đoạn này sẽ được giữ nguyên. Lốp xe được chế tạo, lựa chọn loại phù hợp để phải thay ít lần hơn trong một cuộc đua

Với chương trình này, nhà máy sẽ trở nên linh hoạt hơn với lượng sản xuất tối thiểu (minimum run) của mỗi đợt chạy giảm xuống, thời gian chờ (lead-time) từ khi Sales đặt hàng đến khi có hàng ở trung tâm phân phối cũng ngắn lại, nhà máy có thể sản xuất gần như đồng thời sản xuất nhiều dòng sản phẩm, nhiều kích cỡ sản phẩm, … với hiệu quả chuyển đổi tốt hơn, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của thị trường, của khách hàng.

Và như vậy, SMED là một tiền đề để các doanh nghiệp triển khai Lean Manufacturing (Sản xuất Tinh gọn), một triết lý, một phương pháp sản xuất tiên tiến đang là kim chỉ nam cho rất nhiều doanh nghiệp sản xuất muốn tiến lên Sản xuất Đẳng cấp Thế giới (World Class Manufacturing).

Bạn muốn triển khai Lean? Hãy bắt đầu với SMED!

– Huỳnh Minh Quang – 

Posted in SMED, SMED - Quick ChangeOver | Leave a Comment »

Từ AN TOÀN THỰC PHẨM đến PHÒNG VỆ THỰC PHẨM – Câu chuyện nồi nước lèo của chị bán bún riêu

Posted by vietnamwcm trên 14 Tháng Tám 2017

Là một cơ sở chế biến thực phẩm … siêu nhỏ, được tập huấn về Vệ sinh An toàn Thực phẩm (VSATTP), chị A đã áp dụng những kiến thức đã học vào việc vận hành … quán bún riêu trước nhà, với khách hàng là hàng xóm, trong khu phố mình đang sinh sống:

  • Mỗi ngày đi chợ, thay vì mua từ những người bán dạo, không rõ nguồn gốc, chị đều chọn mua rau, bún, thịt, … từ những cửa hàng, quầy sạp có tên tuổi, uy tín lâu năm về việc kiểm soát chất lượng và nguồn gốc thực phẩm họ cung cấp
  • Khi mang về nhà, chị rửa sạch và sơ chế rồi che đậy cẩn thận hoặc vào tủ lạnh để bảo quản, giữ độ tươi ngon
  • Bên cạnh việc cải tạo và sắp xếp lại nhà bếp, nồi chảo gọn gàng, sạch sẽ, thuận tiện cho việc nấu nướng (5S), chị cũng đã đầu tư bộ tạp dề, găng tay cao su, mũ trùm tóc, … để ngăn ngừa việc nhiễm bẩn từ nhà bếp, dụng cụ chế biến và người đầu bếp vào thực phẩm
  • Khi bán, ngoài việc tô, muỗng, đũa được rửa sạch sẽ, phơi khô và cho vào hộp, … chị cũng có tủ kính để ngăn ruồi và bụi bẩn nhiễm vào rau, thịt. Chị cũng thực hành mang găng tay sạch khi chuẩn bị tô bún, và bỏ găng tay ra khi thâu tiền của khách nhằm ngăn ngừa việc nhiễm bẩn từ tay, từ tiền …

Vệ sinh an toàn thực phẩm

Thế là sau một thời gian, cùng với bí quyết về nấu và nêm nếm vừa miệng, khách hàng rất tin tưởng vào chất lượng và an toàn thực phẩm của quán, dù chỉ có một mình chị lo từ đầu đến cuối!

Một ngày nọ, đang bán thì gần hết bún, sẵn đang không có khách, chị lấy xe chạy ra chợ để mua thêm bún về bán tiếp. Khi trở về thì có khách đến, theo thói quen, đang đảo vá trong nồi nước lèo chuẩn bị chan vào tô bún thì … hình như có gì đó bất thường. Một mùi lạ, hăng hắc sộc lên từ nồi nước lèo làm chị giật mình, lo lắng. Người khách thấy vậy cũng cùng chị ngửi thử thì khẳng định đây là mùi … thuốc chuột! Sau một quá trình điều tra, công an xác định một người hàng xóm, có xích mích với chị về vấn đề đất đai, đã lén bỏ thuốc chuột vào nồi nước lèo của chị khi thấy chị rời khỏi quán và trong quán không có ai giám sát … (Ghi chú: tình tiết dựa trên một câu chuyện có thật xảy ra cuối 2016 ở Quận 9, HCM)

Bỏ qua vấn đề pháp lý, sau sự cố, chị A ngồi lại và ngẫm nghĩ: mình đã thực hiện đúng và đủ các khuyến cáo học được về VSATTP, tại sao vấn đề này vẫn xảy ra? Mang thắc mắc này đến hỏi một anh hàng xóm, phụ trách QA ở một công ty sản xuất thực phẩm lớn, có xuất khẩu đi Mỹ và Châu Âu, thì chị “mắt chữ O miệng chữ A” nhận được câu trả lời: “Vì chị chỉ mới áp dụng chương trình An toàn Thực phẩm nhưng chưa triển khai Phòng vệ Thực phẩm!”

Đóng cửa quán một ngày, chị quyết tâm cắp cặp theo anh hàng xóm học về Phòng vệ Thực phẩm. Sau đây là ghi chép của chị sau khóa 1 ngày với anh hàng xóm:

  • An toàn Thực phẩm (Food Safety): nói đến sự ô nhiễm thực phẩm thụ động, không chủ ý và tập trung vào các mối nguy về sinh học, hóa học và vật lý. Các mối nguy về ATTP tuy khó kiểm soát nhưng khá dễ đoán (vd: thuốc trừ sâu ở rau, thuốc kháng sinh trong thịt, , hàn the trong bún, vi khuẩn trong quần áo, tay chân đầu bếp, dụng cụ làm bếp, …). ATTP thường được đề cập và đào tạo rất đầy đủ trong các chương trình tập huấn VSATTP.
  • Phòng vệ thực phẩm (Food Defense) nhằm hạn chế nguồn cung cấp thực phẩm có khả năng bị làm ô nhiễm có chủ ý phá hoại hoặc do trục lợi, thường là bằng các chất hóa học, sinh học, hoặc các chất gây hại khác. Ngoài khó dự đoán các mối nguy PVTP thường rất khó để kiểm soát
    • Ô nhiễm có chủ ý phá hoại: do xung đột lợi ích, cạnh tranh không lành mạnh, khủng bổ như thuốc chuột trong nồi nước lèo, phân người trong thủy sản,  …
    • Ô nhiễm do trục lợi: thay thế một phần sản phẩm bằng loại rẻ tiền hơn như melamine trong sữa, dùng màu công nghiệp thay vì màu thực phẩm, …

PVTP thường chỉ được đề cập trong chương trình dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu thực phẩm đi Mỹ, một phần vì đây là chương trình do Cục Quản lý Thực phẩm & Dược phẩm (FDA) và Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) khởi xướng và hướng dẫn triển khai sau sự kiện 11/9 và mối nguy ngày càng tăng của việc khủng bố thông qua thực phẩm

  • Không nhầm lẫn PVTP với An ninh Lương thực (Food Security) vốn chỉ dành cho cấp quản lý nhà nước một vùng miền, tỉnh thành, quốc gia: có đủ thực phẩm dinh dưỡng đạt chất lượng cho mọi người dân trong khu vực.
  • Cần áp dụng chương trình ALERT
    • A – ASSURE: Bảo đảm chỉ mua nguyên liệu thực phẩm (thịt, rau, bún, …) từ những nguồn an toàn và đảm bảo
    • L – LOOK: Cải tạo nhà bếp để có thể giám sát người lạ, người xấu không thể xâm nhập mà không bị phát hiện
    • E – EMPLOYEES: hiểu biết tính cách, nhân cách của người giúp việc
    • R – REPORTS: yêu cầu người giúp việc báo cáo các vấn đề, nghi vấn trong quán ngay khi vấn đề vẫn còn trong kiểm soát
    • T – THREAT: các mối nguy, sự cố hoặc hành động đáng nghi trong quán được ngăn chặn và thông báo
  • Ở các nhà máy thực phẩm lớn, người ta còn triển khai chương trình FIRST (ghi chép để dành khi … mở rộng thành chuỗi các quán, nhà hàng bún riêu với hàng trăm nhân viên). Theo đó, nhân viên phải:
    • F – Follow – tuân thủ kế hoạch và quy trình PVTP của công ty
    • I – Inspect – kiểm tra khu vực của bạn và những khu vực chung quanh
    • R – Recognise – nhận diện bất cứ sự việc khác thường
    • S – Secure – đảm bảo an toàn cho tất cả nguyên, phụ liệu, thành phẩm
    • T – Tell – báo cáo người quản lý nếu bạn nhận thấy bất kỳ sự việc không bình thường và đáng nghi ngờ

Là một doanh nghiệp sản xuất thực phẩm, bạn đã có chương trình Phòng vệ Thực phẩm chưa?

– Huỳnh Minh Quang –

Posted in ANLT, ATTP, Food Defense, Food Safety, Food Security, VSATTP | Leave a Comment »